.

(GLO)- Lần đầu tiên tôi đi qua Phú Thọ, dọc một đoạn dòng Lô huyền thoại, ngân nga trong lòng những giai điệu lung linh trong sáng: “Cọ xòe ô che nắng, râm mát đường em đi”.

Và nữa, những câu thơ học từ thuở lên mười: “Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi/ Rừng cọ đồi chè đồng xanh ngào ngạt/ Nắng chói sông Lô hò ô tiếng hát/Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca…”.

Nhưng trung du bây giờ không phải là trung du của 50-60 năm về trước, cũng không dễ tìm rừng cọ qua cửa kính xe chạy 70 km/giờ. Chỉ có vài đám cọ bên đường, lá khô rũ xuống mỏi mệt mà lá non vẫn xòe vươn xanh mướt như những bàn tay thanh xuân. Cây cọ thật sự đẹp, một vẻ đẹp vừa giản dị vừa kiêu hãnh, vừa cứng cáp vừa yêu kiều. Những rừng cọ đồi chè tạo một không gian rộng chuẩn bị dần tâm thế cho du khách đến với đền Hùng.

 

Tác giả chụp ảnh tại đền Hùng.          Ảnh: T.L.H
Tác giả chụp ảnh tại đền Hùng. Ảnh: T.L.H

Trong ký ức của tôi, đền Hùng và những đồi đất trung du gắn với hình ảnh cây chò chỉ trong một câu chuyện thiếu nhi đọc từ lúc nảo lúc nào. Những hạt chò chỉ có đôi cánh bay và xoay trong gió không biết có thật hay không, chỉ biết nó bay mãi trong tôi và cái đồi trong câu chuyện mà tôi tưởng tượng đúng y như cái núi Cả-Nghĩa Lĩnh, nơi đền Hùng tọa lạc. Không gặp được cây chò chỉ nhưng dọc lối lên các khu đền, tôi gặp những cổ thụ cao vút, thân thẳng tắp. Không khí mát lạnh trong lành, đường đi thoáng đãng, quảng trường mở ra mênh mông, những đóa hải đường lốm đốm thắp lửa trên cao, vài tiếng chim thả trong thinh không tĩnh lặng… Lòng người như lắng lại trong một xúc cảm thanh thoát, trầm mặc và thiêng liêng: chúng tôi đang ở mảnh đất các vua Hùng trong hành trình dọc theo lịch sử, mỗi bước đi đều đặt trên trầm tích mấy ngàn năm. Tôi dừng chân bên tảng đá lớn khắc thơ: “Núi Hùng cao ngất một miền Tây/Vua tổ mình xưa gốc ở đây”.

“Vua tổ mình”-thân thương chi lạ, nghe sâu hơn tình cảm từ hai tiếng “đồng bào”. Đền Hùng là một quần thể đình, đền, giếng, tượng… đặt trong một không gian rộng lớn. Cảm giác về các vua Hùng trở nên chân thật gần gũi. Đền Hạ, đền Trung, đền Thượng lần lượt từ chân núi lên có kiến trúc khá giống nhau, trước sân đền có những cây đại cao lớn, thân rong rêu cổ kính, hẳn mùa hoa nở sẽ thơm ngát một vùng. Giếng Mẫu, tương truyền là nơi mẹ Âu Cơ múc nước tắm cho trăm con, có mái che và lan can chắn lối để hạn chế những du khách mê muội ném tiền lẻ cầu may. Tôi tưởng tượng thấy dòng nước mát lành chắt ra từ đồi đất đỏ, lọc qua những tầng đá ong gan gà đặc biệt của xứ sở này, chợt hiểu rằng khi tạo ra con người, mẹ thiên nhiên đã cho sẵn ta nguồn sống.

Giữa sân đền Trung có một tảng đá tròn to, 9 hòn nhỏ hơn xếp quanh, ông từ coi đền bảo rằng đấy là bộ “bàn ghế” vua Hùng ngồi bàn việc nước với các quan lang. Chẳng biết độ xác thực đến đâu nhưng quả là từ đấy có thể nhìn bao quát cả một vùng rộng lớn dưới chân Nghĩa Lĩnh, nơi bây giờ là TP. Việt Trì. Bật cười vì một cậu bé đang ngồi trên ghế đá quan lang mà mắt dán vào màn hình điện thoại, nghĩ đùa đúng là tân cổ giao duyên, quan lang “nhí” thời bốn chấm không là  đây. Bên góc trái đền Thượng có một cột đá cao gấp đôi đầu người, trông giống một sinh thực khí nam (có lý do để nghĩ như vậy, không chỉ vì hình dạng của nó mà còn vì tục thờ nõ nường, với Trò Trám cổ xưa ngay tại vùng đất này). Nhưng ông từ lại kể một câu chuyện khác. Theo lời ông, đấy là cột đá nơi Thục Phán (vốn là cháu rể của Hùng Vương thứ XVIII) khi được Hùng Vương truyền ngôi đã thề với ngài rằng sẽ kế thừa xứng đáng ngai vàng, giữ gìn đất nước Văn Lang. Cũng theo lời ông từ, nguyên nó là một hòn đá khác đã được đưa vào bảo tàng (tôi hỏi bảo tàng nào thì ông trả lời ậm ừ), còn hòn đá thề chúng tôi thấy đây là do một doanh nhân đem từ Gia Lai ra cung tiến. Chúng tôi ồ lên như gặp một người quen, bảo nhau rằng có lẽ nó được khai thác từ mỏ đá quý nào đó ở huyện Chư Sê quê ta.

Đến đền Hùng không phải mùa lễ hội mới có thời gian để cảm nhận hết giá trị thật sự của nó. Toàn bộ khu di tích được chăm sóc khá cẩn thận. Kiến trúc cố gắng giữ những nét thuần Việt. Cây cối xanh tươi, hoa nở bốn mùa. Chúng tôi thong thả leo từng bậc, ghé từng nơi trong hương trầm phảng phất. Chiếc điện thoại thông minh giúp tôi tính khoảng cách từ chân núi đến đền Thượng, độ cao tương đương 39 tầng lầu và định vị luôn địa điểm: xã Hy Cương, TP. Việt Trì.

Đến đền Hùng lần này, tôi mang theo niềm tự hào riêng khi mình là giáo viên của một ngôi trường được mang tên Hùng Vương. Cùng với sự có thêm những kiến thức về các vị vua Hùng, chuyến hành hương này đã đem đến cho tôi nhiều xúc cảm. Một mùa Giỗ Tổ nữa lại đến với con dân khắp cõi Việt Nam, tôi mong những ai đang “đi ngược về xuôi” vẫn sẽ có một phút giây “nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba” và ít nhất một lần trong đời được về với đất Tổ.

Trương Lệ Hằng

.