Giáo dục Gia Lai: Chặng đường phát triển đáng tự hào
Những ngày đầu sau giải phóng, Giáo dục Gia Lai chỉ vỏn vẹn khoảng 2 vạn học sinh và trên vài trăm giáo viên, phần lớn là giáo viên của chế độ cũ tuyển dụng lại; giáo viên ở chiến khu về hầu hết làm cán bộ quản lý, số còn lại được bố trí đi học; giáo viên của các tỉnh miền Bắc chi viện thì chưa vào kịp. Toàn tỉnh lúc bấy giờ chỉ có 1 trường bổ túc văn hóa (thành lập từ trong căn cứ), 7 trường trung học phổ thông và gần 30 trường tiểu học tiếp quản ngay sau khi địch bỏ chạy, tập trung chủ yếu ở vùng căn cứ, thị xã Pleiku, thị trấn Phú Bổn, thị trấn An Khê và vùng lân cận. Các địa bàn còn lại đều “ trắng” về giáo dục.
Hệ thống thư viện, sách giáo khoa và thiết bị của chế độ cũ còn lại không sử dụng được. Tài liệu giảng dạy của chính quyền cách mạng cũng chưa được chuẩn bị đầy đủ. Khoảng 95% đồng bào vùng dân tộc thiểu số, vùng nông thôn bị mù chữ.
Trong muôn vàn khó khăn ấy, chủ trương của tỉnh lúc bấy giờ là nhanh chóng ổn định và từng bước đưa sự nghiệp giáo dục phát triển, với nhiệm vụ trọng tâm là cải tạo nền giáo dục cũ, xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa.
![]() |
| Ảnh: Đức Thụy |
Với chủ trương trên, ngay sau ngày giải phóng, cùng với việc cử người ra miền Bắc xin chi viện giáo viên, tỉnh ta đã thành lập Trường Sư phạm để đào tạo cấp tốc đội ngũ giáo viên cấp I và giáo viên cấp II, đồng thời nhanh chóng bồi dưỡng cho hàng trăm giáo viên tuyển dụng lại để duy trì các hoạt động trong các trường học. Với phương châm “vừa chạy vừa sắp hàng”, chỉ trong vòng 3 năm sau ngày giải phóng, từ nguồn chi viện của các tỉnh miền Bắc, nguồn tự đào tạo trong tỉnh và các trường sư phạm Trung ương phân bố về, tỉnh ta đã có gần 1.000 giáo viên các cấp trực tiếp đứng lớp, tạo điều kiện cho hơn 5 vạn học sinh được đến trường. Đặc biệt, con em đồng bào dân tộc thiểu số, con em nông dân và người nghèo thành thị có nhiều thuận lợi hơn trong học tập so với trước đây. Phong trào xóa mù chữ, học bổ túc văn hóa được phát triển rầm rộ trong nhân dân, nhất là các lớp bổ túc văn hóa ban đêm vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng nông thôn và ven thị xã, thị trấn rất đông người học.
Từ vài trăm giáo viên sau ngày giải phóng, đến nay, toàn tỉnh có trên 2 vạn giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục và nhân viên, trong đó có 80 thạc sĩ, 2 tiến sĩ và hơn 95% đã đạt chuẩn về trình độ đào tạo, phục vụ cho trên 330 vạn học sinh là con em các dân tộc trong tỉnh. Điều quan trọng là chất lượng đội ngũ giáo viên ngày càng được nâng cao đáp ứng được nhu cầu học tập cho nhân dân.
Hệ thống trường lớp từ cơ sở đến tỉnh cũng được quy hoạch ngay từ những ngày đầu sau giải phóng. Đến nay, thôn, làng nào cũng có lớp học, xã, phường, thị trấn nào cũng có trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trung tâm học tập cộng đồng, một số nơi có cả trường trung học phổ thông, huyện lỵ nào cũng có trường trung học phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên, trường dân tộc nội trú, ở tỉnh có hệ thống trường đào tạo cung cấp nguồn nhân lực cho cả tỉnh. Việc làm có ý nghĩa lớn về chính trị xã hội là đã tổ chức hệ thống trường lớp thích hợp với từng nơi theo phương châm “thầy tìm trò, trường gần dân, Nhà nước và nhân dân cùng chăm lo” tạo điều kiện cho mọi người dân và con em của họ có nhiều cơ hội học tập. Dân trí không ngừng được nâng cao.
Nhìn lại chặng đường 35 năm qua, Giáo dục Gia Lai có những thành tựu quan trọng về mở rộng quy mô và đa dạng hóa các hình thức giáo dục, nhanh chóng đưa sự nghiệp giáo dục phát triển, đáp ứng được nhu cầu học tập của con em các giai tầng xã hội, phục vụ kịp thời yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho tỉnh và đất nước. Thành tích nổi bật là hệ thống trường lớp phát triển theo hướng ổn định đúng theo quy hoạch, không còn vùng "rắng” về giáo dục; nhiều trường học đã được xây mới hoặc nâng cấp khang trang với đầy đủ trang- thiết bị hiện đại. Các phòng học tạm bằng tranh tre nứa lá đã được thay thế dần. Hệ thống trường dân tộc nội trú đã phát triển đến cấp huyện để chăm lo giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nhà trẻ- mẫu giáo không ngừng được mở rộng. Số lượng học sinh các cấp học đã tăng đáng kể (tăng gấp 16,5 lần so với ngày đầu mới giải phóng tỉnh 17-3-1975). Tỷ lệ học sinh đi học so với dân số độ tuổi đã tăng dần hàng năm. Số học sinh trúng tuyển vào đại học, cao đẳng hàng năm xấp xỉ 50%. Công tác quản lý đã đi vào nề nếp, kỷ cương, kỷ luật được củng cố, nền nếp dạy và học được giữ vững. Công tác dân chủ hóa nhà trường và xã hội hóa giáo dục đã được nâng lên ở trình độ mới.
Bên cạnh các trường lớp chính quy, hệ thống giáo dục thường xuyên, dạy nghề cũng không ngừng phát triển, đáp ứng nhu cầu học tập liên tục, học tập suốt đời của mọi người dân. Đến nay, Nhà nước đã tặng 1 danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, 24 danh hiệu Nhà giáo Ưu tú cho các nhà giáo có thành tích xuất sắc đối với sự nghiệp giáo dục của tỉnh nhà.
Trung Anh
