.
.

Văn hóa giao tiếp của học sinh, sinh viên- Đang có hiện tượng suy đồi

Thứ Ba, 27/12/2011, 13:37 [GMT+7]
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
(GLO)- Thời gian gần đây, dư luận quan tâm nhiều đến tình hình phát triển của tiếng Việt trong cơ chế thị trường thời mở cửa. Hiện nay, tiếng Việt đang bị biến dạng trong giới trẻ, đặc biệt là ngôn ngữ giao tiếp của học sinh, sinh viên (HS-SV). 
 
Chúng ta có thể thống kê sự khủng hoảng của tiếng Việt trong giới HS-SV ở mọi cấp độ, mọi nơi, mọi lúc. Bước vào khu giảng đường, điều đầu tiên đập vào mắt là những câu từ tục tĩu, khiếm nhã được ghi đầy trên vách tường ngoài hành lang hay trong lớp, đặc biệt là chỗ các em ngồi học, trên những chiếc bàn dày đặc câu chữ, tài liệu các môn học để khi kiểm tra dễ “quay cóp”, hay những số điện thoại, rồi những câu nói khiếm nhã đối với bạn bè hay những câu tán tỉnh nhau, chửi bới nhau… 
 
Không chỉ thiếu văn hóa khi ghi trên tường, bàn ghế gây mất mỹ quan lớp học, mà một bộ phận HS-SV còn thiếu ý thức ngay cả trong lời ăn tiếng nói gây phản cảm đối với những người nghe. Đến căng tin, hàng quán hay các phòng ký túc xá, đâu đâu cũng nghe thấy những câu nói tục của giới HS-SV. Một số học sinh cũng nói năng vô lễ với thầy-cô giáo. Hiện tượng nói năng, phát ngôn bừa bãi của một số HS-SV đã trở thành “bệnh” khó chữa. Có thể nói những cách nói năng này đang làm tiếng Việt của chúng ta trở nên méo mó, “đáng thương” hơn bao giờ hết. 
 
Ngoài phát ngôn tục tĩu, bừa bãi, HS-SV còn hay có cách nói nửa Tây nửa ta trong giao tiếp, cách sử dụng tiếng lóng, tiếng bồi một cách vô tội vạ gây phản cảm, những từ nói tắt, ký hiệu mà người lớn không tài nào giải mã được. Các em có sự “sáng tạo” một cách vô nguyên tắc tạo ra xu hướng quái dị, kỳ quặc trong sử dụng ngôn ngữ, thậm chí là đi ngược lại với đạo lý truyền thống, thuần phong mỹ tục của dân tộc, thể hiện sự sa sút về nhân cách: Để ca ngợi cái đẹp thì “đẹp dã man” hoặc “đẹp kinh khủng long”; đi ăn quà hoặc khen một bạn gái thì bình luận “trông con đó hơi bị ngon”; để khen một người nhiều tiền thì “bữa nay thầu giầu nhỉ, mới lĩnh lương có khác”; đi xe máy luồn lách trên phố thì: “Mày thấy tao xà lách tởm không?”, có khi sử dụng Tây-ta lẫn lộn “thanh kiu anh”, “so-ri anh, em pho-ghét mất” (xin lỗi anh, em quên mất), cho die luôn (chết). Hoặc chát với bạn bè: Ví dụ: “Tôi đang đọc comment đây”; “anh ơi cho em nàm queng”, “Teo mí đi lèm dzìa” (Tao mới đi làm về); “Pí po” là “bye bye”;… và vô số những từ ngữ stin: iu (yêu), dìa (về), rùi (rồi), đâu gòi (đâu rồi), chìu (chiều), dị (vậy), ù (ừ), mừ (mà), bít (biết), bùn (buồn), hic hic (thể hiện trạng thái buồn), ha ha (thể hiện trạng thái vui)... Đó là một vài ví dụ trong vô vàn chuyện về sử dụng ngôn ngữ hiện nay. Kiểu nói như thế đang phá hoại sự trong sáng của tiếng Việt. Có thể nói chưa bao giờ, tiếng Việt bị suy thoái như ngày nay. 
 
Việc sử dụng ngôn ngữ vốn thuộc về quyền chủ quan của người sử dụng nó, chỉ có cách mỗi người tự nâng cao văn hóa đọc, nâng cao tính tự trọng của bản thân để trang bị cho mình trở thành một con người có văn hóa. Sẽ không có một quy tắc nào có thể áp dụng cho mọi người, mọi cơ quan phát ngôn, cũng không có một người thầy nào có thể theo suốt cuộc đời học trò để rèn giũa. Môi trường sống, sự giáo dục của cha mẹ, của quá trình nhận thức... chính là yếu tố cốt lõi tạo nên một nền tảng ngôn ngữ vững chắc cho mỗi người. Trường học là nơi truyền bá những nét đẹp của văn hóa một cách khuôn mẫu và bài bản nhất, vì vậy văn hóa trong giao tiếp, đặc biệt trong ngôn ngữ đòi hỏi các thầy-cô giáo dạy cho HS-SV những điều chuẩn mực nhất. Bên cạnh việc giáo dục ngôn ngữ giao tiếp cho HS-SV nên được thực hiện mạnh mẽ trong Đoàn Thanh niên, Hội Học sinh-Sinh viên, hoạt động xã hội,… có như thế mới mong phục dựng được văn hóa giao tiếp trong học đường đang ngày càng xuống cấp như hiện nay.
 
Nhật Minh
.
.
.
.