.
.

Giáo sư Phong Lê nói chuyện văn

Thứ Sáu, 29/07/2011, 16:17 [GMT+7]
Giáo sư Phong Lê
Giáo sư Phong Lê. Ảnh: Thu Huế
Pleiku đón Giáo sư Phong Lê bằng một cơn mưa đường đột và dai dẳng. Ông cười: “Lần đầu đến, Pleiku đã có ý níu giữ rồi, điều này thật đáng quý”. Và cũng vẫn nụ cười thân thiện ấy, ông bắt ngay vào chuyện văn chương khiến cho bài nói chuyện chuyên đề về văn học Việt Nam với đầy ắp những khái niệm học thuật trở nên mềm mại, dí dỏm, đặc biệt thu hút sự quan tâm của người nghe.
 
Tham gia truyền đạt tại lớp bồi dưỡng kỹ năng sáng tác văn học khóa V khu vực Tây Nguyên và Đông Nam bộ tổ chức tại TP. Pleiku vừa qua, Giáo sư Phong Lê đem đến cho các học viên một cái nhìn vừa tổng quan, mang tính khái quát cao vừa cụ thể, chi tiết lại vô cùng sinh động với những ví dụ điển hình với 3 nội dung chính như: Hiện đại hóa văn học Việt Nam trong đối sách khu vực Đông Á; từ ba chuyển đổi làm nên gương mặt của cái thời chúng ta đang sống và văn học với hiện thực hôm nay và sự đồng hành của hơn 4 thế hệ viết.
 
Ông khuyến khích: “Muốn hiểu kỹ một vấn đề nào đó thì trước hết hãy viết về nó, đồng thời phải nói ra, phải mời gọi đối thoại. Nói chính là động thái cần thiết để hỗ trợ cho viết”. Chẳng hạn, với phần nói chuyện về văn học với hiện thực hôm nay và sự đồng hành của hơn 4 thế hệ viết, sau một nhận định mang tính gợi mở: “Hôm nay, theo tôi quan niệm là một thời gian khá dài, nếu tính từ khởi động của công cuộc đổi mới với Đại hội Đảng lần thứ VI-1986. Những 24 năm. Ngót 3 lần chống Pháp. Hơn hai lần cả nước chống Mỹ. Đủ cho sự hiện diện của nhiều thế hệ viết, nếu kể từ Tô Hoài, Nguyễn Xuân Sanh… với tuổi thọ 90, cùng thế hệ trên dưới 80 và 70 như Sơn Tùng, Vũ Tú Nam, Hồ Phương, Nguyên Ngọc… cho đến thế hệ cuối 8X đầu 9X trở đi, trên tổng số hàng ngàn người viết là hội viên Hội Nhà văn hoặc còn chờ, hoặc chưa…”; Giáo sư Phong Lê lại đem đến cho người nghe một loạt các khái niệm cần trao đổi, cần làm sáng tỏ, cần bày tỏ quan điểm cá nhân bằng sự nhấn mạnh: “Và cái thời hôm nay, ta đang bàn, cần phải tính từ mốc 1986, với hai khẩu hiệu làm nên linh hồn của nó-đó là khát vọng dân chủ hóa, “lấy dân làm gốc” gắn với hai mục tiêu: Dân chủ và văn minh, và với cách tiếp cận: Nhìn thẳng vào sự thật…”.
 
Còn nhớ, năm 1986, khi đổi mới đã đánh thức ở trí thức cái nhu yếu nhìn nhận lại mình, tự “cởi trói” cho mình để vươn dậy mạnh mẽ thì trong bối cảnh này, cái tên Phong Lê thường xuyên xuất hiện, trở thành một nhà giáo, nhà nghiên cứu dành nhiều tâm huyết cho đổi mới, thực sự là người của sự viết và sự nói, cụ thể từ buổi tọa đàm Văn học và Hiện thực (tháng 7-1988) được tổ chức ở Viện Văn học (lúc này ông đang là Viện trưởng Viện Văn học-N.V).
 
Cùng với bài viết của Lê Ngọc Trà trên Văn nghệ trước đó (tháng 5-1988), tọa đàm là biểu hiện mạnh mẽ của ý thức nhận thức lại bản chất văn nghệ. Vậy là, cái công của tọa đàm, mà Giáo sư-Viện trưởng Phong Lê là người chủ trì, cuốn sách Văn học và Hiện thực về sau nữa, là đã cùng các nhà lý luận phê bình cất lên tiếng nói trả văn học về đúng vị trí của nó. Nhưng những tiếng nói thẳng thắn, quyết liệt trực diện vào đường lối văn nghệ của Đảng những năm đầu đổi mới quả thật không dễ dàng. Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định, Giáo sư Phong Lê chính là người đã chìa đôi vai của mình để góp phần gánh vác nhiệm vụ ấy...
 
Sau 1995, khi không phải đảm trách những việc ngoài văn chương, tâm sức Giáo sư Phong Lê hầu như đã dồn lại vào hai nhiệm vụ: Trước thuật và giảng dạy. Các bài viết, bài nói của ông đều hướng đến việc phác thảo diện mạo văn học Việt Nam, đa dạng ở bề mặt, thống nhất ở bề sâu theo hai khuynh hướng cách mạng hóa và hiện đại hóa. Ông chia sẻ: “Trong các nghiên cứu của mình, tôi luôn đi đến cùng phong cách nhà văn để thấy con người của đời và con người của văn trong văn chương của họ; thấy dấu ấn nhân quần, bản tính dân tộc và cá tính con người trong người cầm bút. Văn học vì vậy, là kết tinh của tinh thần cách mạng, của khát vọng cách tân trong hành trình tinh thần của con người”.
 
Còn chúng ta-những độc giả, chúng ta có thể nhìn về sản lượng viết của ông như chính cách nói của ông: Một đời phê bình lực lưỡng. Chúng ta có thể nhìn về tốc độ viết của ông như chính thuật ngữ của ông: Một gia tốc lịch sử hiếm thấy. Hai mươi năm sau đổi mới, “thời điểm quan trọng” luôn được ông nhắc tới trong lời mở đầu mỗi cuốn sách, ông “sinh đôi, sinh ba” khá đều đặn, càng ngày càng mau mắn: 1994 (2 cuốn), 1997 (3 cuốn), 2001 (3 cuốn), 2003 (2 cuốn), 2005 (2 cuốn)… Sức vóc ấy, tiêu biểu là cụm công trình được Giải thưởng Nhà nước về khoa học năm 2005, gồm: Văn học Việt Nam hiện đại, Những chân dung tiêu biểu (2001); Một số gương mặt văn chương-học thuật Việt Nam hiện đại (2001) và Văn học Việt Nam hiện đại-lịch sử và lý luận (2003) thể hiện một tâm lực, một trí lực, một bút lực sung mãn.
 
Thu Huế
.
.
.
.