742
Văn hóa
Văn hóa
/channel/742/
vanhoa
247059
0
121
null
BaoGiaLai
.

Ai nghiên cứu văn hóa Gia Lai?

Cập nhật lúc 04:10, Thứ Bảy, 13/02/2010 (GMT+7)

Câu hỏi trên hoàn toàn có cơ sở và thực sự là một nỗi lo, nếu chúng ta cùng nhìn vào thành tựu ở lĩnh vực này của Gia Lai trong vòng mấy chục năm qua. Về nhà rông, nhà mồ, cồng chiêng, múa hát, sử thi (một số “đặc sản” đáng tự hào của Gia Lai),… tuyệt nhiên chưa thấy xuất hiện một công trình nào xứng với tầm vóc của chúng. Vì sao lại có điều đáng tiếc như vậy?

Trước hết cần khẳng định lại rằng, chúng ta đã và đang sống trên một mỏ vàng về văn hóa dân gian. Ai cũng biết rằng, chỉ cần xích ra khỏi trung tâm TP. Pleiku chưa đầy 10 km thôi, giới nghiên cứu đã có thể bắt gặp các cộng đồng cư dân bản địa- tức địa bàn nghiên cứu, nếu họ muốn. Ở các buôn làng Jrai, Bahnar, từ trước đến nay, tuy mức độ đậm nhạt khác nhau song rõ ràng là chưa bao giờ thiếu các sinh hoạt văn hóa truyền thống, để những người yêu công việc này tìm hiểu, làm nên công trình. Và, đề tài sẽ trở nên phong phú, thú vị hơn khi cùng thống nhất rằng Gia Lai không chỉ có văn hóa của các cộng đồng dân tộc thiểu số.

Vào hội. Ảnh: Nguyễn Quang Tuệ
Vào hội. Ảnh: Nguyễn Quang Tuệ

Vấn đề dường như nằm ở chỗ, Gia Lai chưa có đơn vị nào hăng hái trong việc khẳng định chức năng nghiên cứu văn hóa của mình. Hai cơ quan mà những người yêu mến văn hóa địa phương mong muốn và có thể nhờ cậy là Sở Văn hóa- Thể thao và Du lịch cùng Hội Văn học- Nghệ thuật Gia Lai thì đều rất bận bịu. Mỗi cơ quan bận một kiểu nhưng điểm chung là họ thiếu (chính xác hơn là không có) người được phân công làm nhiệm vụ này. Ở Sở có Phòng Nghiệp vụ văn hóa; tại đây đương nhiên việc quản lý hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa là nhiệm vụ hàng đầu. Ở Hội, nghiên cứu chưa thực sự được xem là một nhiệm vụ cấp bách. Nguyên nhân của tình trạng trên đây, ngoại trừ cơ chế và “không khí nghiên cứu”, là bởi cả hai đơn vị vừa nêu thiếu người, chính xác hơn là thiếu những người làm được và được làm công việc này.

Thiếu người và những điều kiện thiết yếu kèm theo, nghiên cứu văn hóa Gia Lai vô tình bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Và khi đã coi đó là một công việc “tay trái”, một sự “làm thêm” hay “tranh thủ”,… thì đôi khi không đạt được kết quả như mong muốn cũng là đương nhiên. Điều éo le là nếu công việc này không được triển khai một cách chặt chẽ và có hệ thống thì sự nghiệp nghiên cứu văn hóa địa phương sẽ trở nên bội phần khó, khi mà môi trường sống mỗi ngày một thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho văn hóa dân gian. Ở góc độ khác, nếu không có thành quả nghiên cứu thì việc quản lý, phát huy các giá trị của văn hóa truyền thống trong cuộc sống mới cũng sẽ trở nên vô cùng khó khăn, vì hiểu biết bao giờ cũng là nền tảng quan trọng trong trường hợp này.

Tóm lại, trừ một số đóng góp có quy mô thường nhỏ và chủ yếu là về mặt tư liệu của một số tác giả ở địa phương, văn hóa Gia Lai vẫn là một lĩnh vực chưa được nghiên cứu nhiều. Tại đó, ngoài những công trình của một số tác giả ngoại tỉnh (thường là ở Hà Nội), thành tựu của chính chúng ta thực sự là rất ít ỏi. Do vậy, bên cạnh nhiều việc nên làm, một trong những giải pháp hữu ích trong trường hợp này là cần quan tâm đến tạo nguồn, xây dựng đội ngũ những người làm công tác nghiên cứu, ứng dụng văn hóa ở địa phương.

Nguyễn Quang Tuệ


.
.
.
.
.