721
Xã hội
Xã hội
/channel/721/
xahoi
243165
0
121
null
BaoGiaLai
.

Quản lý vận hành các công trình cấp nước ở Gia Lai- Còn những khó khăn

Cập nhật lúc 23:53, Thứ Bảy, 30/01/2010 (GMT+7)
Niềm vui của người dân được sử dụng nước sạch. Ảnh: Đ.T
Niềm vui của người dân được sử dụng nước sạch. Ảnh: Đ.T

Những năm qua, bằng nhiều nguồn vốn khác nhau như: Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn, chương trình 134, 135… đã mang lại niềm vui cho người dân ở vùng nông thôn trong tỉnh khi nguồn nước sạch đã được dẫn về đến làng. Tuy nhiên, công tác quản lý và vận hành các công trình này vẫn còn gặp không ít những khó khăn.

Do tập quán nên nguồn nước sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu lấy từ hệ thống  sông, suối… nên thiếu vệ sinh. Những năm qua, nhờ nguồn vốn đầu tư của Nhà nước và các nguồn vốn tín dụng khác về xây dựng hệ thống cấp nước sinh hoạt tập trung ở vùng nông thôn, nên  nhiều nơi đã có nguồn nước sạch, đảm bảo vệ sinh trong sinh hoạt.

Theo thống kê của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, toàn tỉnh hiện có 277 công trình cấp nước sạch sinh hoạt tập trung (trong đó 107 công trình từ chương trình mục tiêu quốc gia, còn lại là từ các chương trình khác), được xây dựng dưới hình thức tự chảy và bơm dẫn phân bổ ở 76 xã của 17 huyện, thị xã, thành phố. Các công trình này đã cấp nước sinh hoạt cho 109.480 người dân (chiếm 12,53%) dân số vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh, chủ yếu là vùng đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa. Trong tổng số 277 công trình, có 154 công trình tự chảy chiếm 55,6%, 123 công trình bơm dẫn chiếm 44%, 75 công trình có thu tiền sử dụng nước hoặc các huyện hỗ trợ kinh phí để bảo dưỡng chỉ chiếm 27%.

Mặc dù hệ thống giếng khoan, nguồn nước đã được xây dựng cho người dân sử dụng, nhưng nhìn một cách tổng thể, công tác quản lý vận hành các công trình vẫn còn nhiều khó khăn khi số lượng công trình nhiều nhưng chỉ có 138 công trình có tổ quản lý vận hành, còn lại 139 công trình (chiếm 50%) không có người quản lý vận hành. Điều này khiến các công trình không có tổ quản lý vận hành dễ bị hư hỏng, xuống cấp nhanh… Bên cạnh đó, số lượng công trình nhiều nhưng chỉ có 88 công trình hoạt động tốt còn lại  hoạt động trung bình và kém hiệu quả.

Ông Nguyễn Chúc-Phó Giám đốc Trung tâm Nước sạch và vệ sinh Môi truờng nông thôn tỉnh cho biết: Chương trình cấp nước sinh hoạt cho người dân nông thôn trên địa bàn tỉnh trong những năm vừa qua  đã được quan tâm xây dựng và mang lại nguồn nước sinh hoạt cho hầu hết các gia đình ở vùng này. Tuy nhiên, công tác quản lý vận hành các công trình trên địa bàn tỉnh gặp không ít những khó khăn. Nhất là các công trình cấp nước tập trung không áp dụng thu tiền nước hàng tháng hoặc công trình không được địa phương hỗ trợ kinh phí cho các tổ quản lý hoạt động bảo dưỡng khiến nhiều công trình đã bị hư hỏng xuống cấp. Không những vậy, do địa hình đồi dốc cao, các công trình lại phân tán nhỏ, lẻ, thiếu người quản lý vận hành nên hiệu quả hoạt động thấp. Đặc biệt, chưa có văn bản pháp lý về phân cấp quản lý các công trình cho các địa phương, vì vậy công trình  không phát huy hiệu quả cao và nhanh chóng bị hư hỏng.

Để các công trình cấp nước nông thôn tập trung  hoạt động ổn định  phát huy hiệu quả khai thác cần phải có sự đầu tư kinh phí sửa chữa các công trình bị hư hỏng, các địa phương cần thành lập các tổ quản lý vận hành để bảo dưỡng các công trình khi có hư hỏng xảy ra. Đồng thời, cũng nên trích một phần kinh phí để hỗ trợ các tổ vận hành tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số… Có như vậy các công trình này mới phát huy hiệu quả

Nguyễn Hồng


.
.
.
.
.