Nỗi khổ của làng tái định cư
Khi về khu tái định cư, người dân vẫn mong đợi cuộc sống sẽ được ổn định hơn nơi làng cũ. Họ chỉ mong có được một nơi ở tốt, một vùng đất canh tác ổn định. Thế nhưng đã bao năm rồi dân làng Kon Von 1 (xã Đak Roong, huyện Kbang, Gia Lai) vẫn thiếu nước sinh hoạt, thiếu đất sản xuất.
Thiếu nước sinh hoạt
Cách thị trấn Kbang chừng 70 cây số, làng Kon Von 1 lọt thỏm giữa những cánh rừng nguyên sinh. Đây là làng tái định cư (TĐC) từ công trình thủy điện Vĩnh Sơn. Năm 2005, làng được dời về khu ở mới này với tổng cộng 53 hộ dân người dân tộc Bahnar. Khi về đây sinh sống, mỗi hộ dân được nhận 1 căn nhà xây theo mô hình nhà sàn truyền thống của người Bahnar với trị giá 50 triệu đồng lúc bấy giờ. Đi kèm theo mỗi căn nhà TĐC là một nhà vệ sinh và một bể chứa nước sinh hoạt. Theo thiết kế ban đầu, nguồn nước sinh hoạt cung cấp cho khu TĐC này được dẫn về từ một hồ chứa trên núi.
![]() |
| Dân làng Kon Von 1 trông chờ vào nguồn nước ít ỏi này. Ảnh: Tiến Thành |
Thế nhưng, sau khi khu TĐC được đưa vào sử dụng, nguồn nước sinh hoạt cung cấp cho người dân nơi đây không được chảy theo đúng thiết kế ban đầu. Trước tình hình đó, Ban Đền bù TĐC đã triển khai thực hiện phương án “chữa cháy” là đào giếng. Tuy nhiên, do tầng địa chất khu TĐC có nhiều đá, số giếng được đào cũng không thể đáp ứng đủ nguồn nước sinh hoạt cho người dân. Cả làng cũng chỉ có được 7 giếng nước. Nhưng rồi, những giếng có nước cũng chỉ sử dụng cho một số hộ xung quanh trong mùa mưa, còn mùa nắng thì giếng lại khô kiệt. Và như vậy, mọi nhu cầu còn lại về nước sinh hoạt đều phải trông chờ vào giọt nước của làng. Ngày nào người dân cũng phải xuống giọt để tắm, giặt và lấy nước sinh hoạt.
Nhưng để đến được giọt nước cũng không phải chuyện dễ dàng chút nào, bởi giọt nước nằm tận dưới một khe núi dựng đứng cách khu dân cư đến gần 1 cây số. Mỗi lần đến giọt nước là mỗi lần nhọc nhằn, gian khó. Khi xuống thì trơn trượt, còn khi lên thì phải nhích từng bước một. Chị Đinh Thị Thiết vừa cõng trên lưng một gùi nước nặng trĩu, hai tay bê chậu quần áo lom khom “bò” lên con dốc dựng đứng vừa nói với chúng tôi: “Nhà mình không ở gần giếng nên quanh năm đều xuống đây lấy nước. Nhiều hộ dân trong làng cũng phải xuống giọt tắm giặt và lấy nước uống. Mùa mưa, đường trơn khó đi lắm”.
Bấp bênh đất sản xuất
Ngay từ những ngày đầu đến đây, mỗi hộ dân được cấp 1 sào đất ruộng trên cánh đồng ngay cạnh làng. Tuy nhiên, đã vài năm nay, cả cánh đồng tái định canh này cũng không phát huy được tác dụng. Ruộng đồng bỏ hoang để cho cây cỏ mọc um tùm. Người dân thì phải nhọc nhằn chèo thuyền vượt lòng hồ thủy điện về nơi ở trước đây để gieo trồng trên những mảnh đất rẫy không bị ngập. Ông Đinh Văn Huyên bộc bạch: “Khi ủi ruộng để cấp cho dân, xe ủi đã gạt đi hết lớp đất tốt nên cây trồng không thể mọc lên được. Dân làng đã trồng lúa nước, nhưng đất xấu quá, lại không đủ nước tưới nên đã chết hết. Sau này, nhiều người đã chuyển sang trồng đậu phụng, nhưng đậu cũng không có trái. Chỉ còn cách là về lại nơi ở cũ để tìm đất canh tác”.
Để quy hoạch cánh đồng tái định canh này, Ban Quản lý Thủy điện Vĩnh Sơn cũng đã cho xây dựng một đập chứa nước và hệ thống mương máng để dẫn nước tưới tiêu cho đồng ruộng. Thế nhưng, theo như những người dân ở đây cho biết, vào mùa khô, hồ chứa này hoàn toàn bị khô kiệt. Lượng nước trong hồ không đủ cấp nước cho vài ao nuôi cá. Ngay hôm chúng tôi đến, mặc dù lượng nước trong hồ còn khá lớn, song chỉ có mỗi con mương tiêu phèn là có được dòng nước yếu ớt từ hồ chứa chảy ra. Còn trên những con mương dẫn nước vào khu nội đồng thì không hề có đến một giọt nước.
Trong những ngày ở lại đây, chúng tôi đã có dịp ghé thăm một số gia đình. Hầu hết đều thiếu cái ăn. Năm nay, do ảnh hưởng của bão lũ nên những rẫy bắp, rẫy lúa ít ỏi của người dân gần như bị mất trắng. Gia đình cụ Lê Đình Công đã mất rất nhiều công sức để trồng được 3 sào lúa rẫy bên làng cũ, nhưng rồi cũng chỉ thu hoạch được vỏn vẹn 2 bao lúa. Lo cho cái đói đang đến gần, 5 miệng ăn trong gia đình đành nhịn cả bữa sáng để tiết kiệm gạo. Mỗi ngày lên rẫy, vợ chồng ông chỉ mang theo 2 gói mì tôm để lót dạ, rồi tranh thủ thời gian nghỉ trưa để ra hồ thủy điện câu cá, hái rau mà phụ vào bữa ăn tối cho gia đình. “Ở làng này, nhà nào cũng thiếu gạo ăn, nhất là vào khoảng tháng bảy, tháng tám hàng năm. Khó khăn quá! Ngoài mấy sào đất rẫy bên làng cũ thì cũng không còn đất đâu mà làm để kiếm thêm cái ăn...”- cụ Lê Đình Công thở dài.
Tiến Thành
