Nhớ những tháng ngày đã xa
Những chuyện tôi sắp kể dưới đây hơn ba mươi năm qua luôn nằm sâu trong ký ức đợi có dịp là trỗi dậy nhắc tôi những kỷ niệm buồn vui về một thời thanh xuân đầy gian khổ, thiếu thốn nhưng rất đáng tự hào…
Chuyên gia chế biến thức ăn
Năm học 1977-1978, tôi từ Kon Tum chuyển về dạy học ở trường PT cơ sở xã Ia Grai, huyện Chư Pah (nay là xã Ia Tô, huyện Ia Grai- Gia Lai). Xã Ia Grai cách trung tâm huyện 16 km, mỗi ngày có một chuyến xe đò lên và về nhưng chỉ chạy được mấy tháng mùa khô, mùa mưa hoàn toàn đi bộ. Bấy giờ xã có 3 thôn người Kinh từ Qui Nhơn, Bình Định đi kinh tế mới lên đây, còn lại là đồng bào dân tộc Jrai ở các làng Delung, Hlũ, Kmông v.v... Cái nghèo lộ rõ trên từng nóc nhà, nhà dân các thôn Kinh đều lợp lá tranh, vách cũng lá tranh, họa hoằn lắm mới có nhà thưng vách đất, còn các làng cũng không hơn, nhà sàn nào cũng nho nhỏ, lợp lá, thấp lè tè.
![]() |
| Một lớp học ở vùng xa. Ảnh: Đức Thụy |
Trường chúng tôi có một số lớp mẫu giáo ở các thôn Kinh, các lớp cấp một và hai lớp cấp hai nhô, lớp 6 và lớp 7. Trong trường, tất cả phòng học đều dựng bằng tre, lợp lá tranh, vách là những thân lồ ô chẻ ra đan lại, phần lớn bàn ghế đóng bằng gỗ nhưng không đủ nên một vài lớp phải kê thêm bộ bàn ghế học sinh kết bằng…cây le. Vách ngăn thưa, đứng ở lớp này nhìn thấu sang lớp khác. Trên đồi gió lộng, giáo viên giảng bài phải lớn tiếng thì học sinh mới nghe được, thi thoảng lại dừng, nín thở chờ cơn gió đầy bụi thổi qua.
Trường có gần 20 giáo viên nhưng không có cấp dưỡng nên chúng tôi phải phân công nhau nấu ăn, thường hai người- một nam và một nữ- một tổ, phụ trách một ngày, cả chẻ củi, gánh nước, nấu ăn và dọn rửa. Các bạn tính, lương trung bình của mỗi giáo viên bấy giờ trên dưới 45 đồng, nộp tiền ăn 15-20 đồng, chỉ mua rau, mắm mà thôi. Mà nào có đủ, thường chi khoảng nửa tháng là đã hết tiền, do thực phẩm từ Pleiku đưa lên rất đắt đỏ. Ngộ biến thì phải tùng quyền, các tổ đành tự lực, nghĩ ra những cách chế biến sao cho nuốt được cơm. Phiên tôi, hết nước mắm. Suy nghĩ mãi, nhớ lại hồi còn ở nhà thấy mẹ thắng đường mỗi khi kho nấu, tôi thử nấu nước muối, thắng đường rồi đổ vào, khuấy mạnh. Vậy là cho ra một loại chất lỏng cũng có màu như nước mắm, cũng…mằn mặn, chỉ có điều ăn không ngon mà thôi. Anh Phạm Đình Bài, hiệu trưởng, người Thanh Hóa, chan tí “nước mắm” vào chén cơm (độn khoai) và lấy và để cơm rồi lại đặt chén xuống hỏi:- Hôm nay các cậu dùng nước mắm gì mà lạ vậy? Tôi đánh trống lảng: Bộ ăn nước mắm ngon thì anh nhớ chuyện gì hay sao mà thắc mắc vậy? Biết ý, cô giáo Liên, cô giáo Trạc và đặc biệt cô giáo Bông cùng tổ tôi quay mặt cười…Thấy mọi người cười, anh Bài không hiểu mô tê gì cũng cười và thôi không hỏi nữa.
Mặc dù chúng tôi cũng tổ chức tăng gia, trồng rau xanh nhưng vườn rau thiếu nước, thiếu phân bón nên không bao giờ đủ rau ăn cả. Gần khu nhà ở giáo viên là rẫy mì, rẫy khoai lang của dân, chiều chiều chúng tôi ra đó hái đọt mì, đọt khoai lang. Này nhé, đọt mì ăn ngon tuyệt, nhưng các bạn phải biết cách. Trước hết phải biết phân biệt lá mì nào ăn được, lá mì nào không, mì ăn được là loại mì gòn, cọng mì màu đỏ. Hái lá đọt, vò kỹ rửa sạch, bắc lên bếp đun sôi thật lâu. Sau đó, hạ xuống, vắt ráo nước, bóp vụn, vặt nhỏ rồi bắc chảo lên cho dầu ăn vào (bấy giờ là mỡ) xào kỹ. Cho thêm nhiều ớt xanh đã giã nhỏ. Vậy là có món ăn thật khoái khẩu!
Cùng với món lá mì “kinh niên” là món mít đa năng cũng luôn được chúng tôi đưa vào thực đơn hàng ngày. Tháng 3, tháng 4 trở đi những cây mít trong làng bắt đầu ra quả. Vậy là chúng tôi có đủ món: mít luộc, mít xào, mít nấu canh, hôm nào sang hơn thì có gỏi mít. Ăn quen đến nỗi không cần nhìn vào mâm cơm tôi đã biết hôm nay ăn gì, vậy mà nào được no đâu. Thì các bạn tính, tiêu chuẩn giáo viên 13 kg lương thực, trong đó 50% là độn, vậy thì làm sao đủ no? Nhiều bữa ăn cơm xong, tôi cứ ngỡ mình chưa ăn gì!
Thiếu thốn quá đâm ra…
Có chuyện không thể không nói ra. Chúng tôi luôn mong người yêu của các cô giáo đến thăm. Những lần ấy, chúng tôi mừng như được ăn cỗ. Kể cũng xấu hổ thật! Các bạn tính, cánh giáo viên nam như chúng tôi lãnh lương xong nộp tiền ăn, mua lạng thuốc rê, góp tiền nhậu vài bữa là đi tuốt tháng lương. Các cô giáo thì khác, vẫn tích cóp chút ít để dành, phái nữ mà! Những lần người yêu của các cô đến thăm, mới giữa buổi chúng tôi đã đảo mắt xem các cô chuẩn bị đón tiếp thế nào, thấy chậm là kiếm chuyện đi qua phòng các cô e hèm…nhắc: Có nhờ anh làm gì không, hoặc hôm nay em có lên lớp không…? Biết tỏng ý các thầy, cô giáo tươi cười mời ngay: Dạ, em đang chuẩn bị đây ạ. Thế là trưa đó thế nào cũng có chút cá khô kho, rau tươi, may mắn hơn thì có ít thịt heo luộc. Và một vài xị rượu đế hoặc đậm đà hơn là chai rượu thuốc Canh- ky- na mua ở cửa hàng dược. Chúng tôi thường nói vui: Tuần sau, các anh (các bạn) lại đến thăm trường, thăm cô…nữa nhé?
Tháng 5, sau vài cơn mưa đầu mùa, cánh đồng thôn 2, thôn 3 đầy ắp nước. Ruộng đã gặt xong còn trơ gốc rạ. Tiếng ếch nhái kêu vang như mời gọi. Ban đêm các thầy quần đùi, đốt lốp xe máy, hoặc vỏ xe ô tô làm đuốc, quần đảo xuống ruộng soi ếch. Tất nhiên các cô giáo cũng phụ họa. Ếch, nhái, chẫu chàng, cá rô ... bắt tuốt, mang về cho tất tần tật vào nồi, thêm ít bột ngọt, muối hạt là có bữa nhậu ngon tuyệt.
Mùa này cũng là mùa làm rẫy. Đỗ Ngọc Khuynh-giáo viên toán, phụ trách công đoàn- cùng tôi và Lưu Hồng Sơn- giáo viên sử địa- cuốc chung nhau đám rẫy trồng lúa. Đói quá, không có sức, Khuynh lên làng xin thịt hông khói (Khuynh nói tiếng Jrai rất giỏi) và mua một ca gạo dẻo nấu cơm. Ăn cơm xong, chuẩn bị ra rẫy thì trời đổ mưa to. Tôi và Sơn lười biếng sẵn nên khấp khởi mừng thầm, còn Khuynh chép miệng than: Tiếc ca gạo quá!
Ngày ấy cánh giáo viên ở xa như Trần Văn Tươi, Vũ Kim Tuyên, Thái Văn Phú ở xã B11, Huỳnh Tòng, Huỳnh Văn Ký ở xã B12, Nguyễn Ngọc Sinh, Đặng Quang Vinh ở B13 … đều không dùng đến gạo tiêu chuẩn vì đường sá xa xôi không thể mang vác được, lại ở làng không thiếu gạo. Thường thì anh em cho cánh cán bộ phòng, cho giáo viên dưới thị trấn huyện mượn sổ mua gạo. Hôm ấy anh Bài hiệu trưởng “sáng kiến” lên xã B11 “thăm” anh em. Đi bộ hơn một buổi, đến nơi trời đã ngả sang chiều, được anh em đãi một bữa cơm no, hôm sau được anh em trên đó “tặng” mỗi người một ba lô gạo cõng về. Tháng ấy chúng tôi không lo thiếu gạo ăn nhưng tháng sau không thể lại “thăm” anh em xã khác được!
Năm ngoái tôi có dịp đi ngang qua xã cũ, lòng bâng khuâng trước cảnh vật đã đổi thay nhiều. Nhà ở của dân các thôn, làng đều lợp ngói, nhiều nhà lên lầu. Khu nhà ở giáo viên giờ là một vườn cây ăn trái. Ngôi trường hai tầng kiên cố thay cho ngôi trường tranh tre ngày nào. Và tất nhiên đồng lương cùng cuộc sống giáo viên đã hơn hẳn chúng tôi ngày ấy.
Những ngày tháng gian khổ đã xa song tôi mãi mãi không quên kỷ niệm một thời khó khăn, nhiều niềm vui và cả những nỗi buồn…
Thanh Phong
